Tin mới

Latest Posts

Có thể chữa khỏi viêm gan B không?

- Thứ Năm, ngày 27 tháng 11 năm 2014 No Comments
Anh tôi bị viêm gan B đã gần một năm nay, đi chữa vẫn chưa khỏi. Xin hỏi bệnh viêm gan B hiện y học đã có thể chữa khỏi chưa?
Thu Xưa (thuxua2009@...)
TS.BS Phạm Thị Lệ Hoa, trưởng phòng khám viêm gan bệnh viện đại học Y dược TP.HCM: Viêm gan siêu vi B cấp không cần dùng thuốc đặc trị cũng có thể khỏi hoàn toàn. Viêm gan B mạn thì cần điều trị để tránh xơ gan hay ung thư gan bằng cách kiểm soát lâu dài siêu vi (thể hiện bằng HBVDNA âm và HBeAg âm ngay cả sau ngưng thuốc). Có thể nói tỷ lệ chữa khỏi hoàn toàn (HBsAg trở nên âm tính) của viêm gan B mạn rất thấp, nhưng việc kiểm soát siêu vi lâu dài là thực hiện được nếu bệnh nhân theo dõi, tái khám đầy đủ.

Người trẻ có dễ bị tai biến mạch máu não?

- No Comments
Tôi năm nay 28 tuổi, huyết áp hay ở mức 140/100mmHg, lại phải làm việc căng thẳng trí óc, thường xuyên ngủ trễ... Nghe nói người huyết áp cao có nguy cơ bị đột quỵ não do tai biến mạch máu não, xin hỏi tai nạn đó có dễ xảy ra ở người trẻ như tôi không? Tôi nên làm gì để phòng tránh?
Quốc Thuận,TP.HCM.
PGS.TS.BS Nguyễn Minh Hiện, trưởng khoa đột quỵ não bệnh viện Quân y 103:
Đột quỵ não và tai biến mạch máu não là hai tên gọi của một tình trạng tổn thương não cấp tính do mạch máu. Hiện nay đột quỵ não ở người trẻ chiếm một tỷ lệ nhất định.
Đặc biệt là có những bệnh nhân đột quỵ não ở độ tuổi 20 – 25. Bạn hiện có những yếu tố nguy cơ gây đột quỵ não như: tăng huyết áp, thường xuyên căng thẳng trong công việc… Với mức huyết áp như vậy, bạn cần có biện pháp điều trị và dự phòng các yếu tố nguy cơ. Bạn cần uống các thuốc huyết áp theo chỉ dẫn của bác sĩ.
Tôi khuyên bạn nên mua một máy đo huyết áp cá nhân đã được viện Tim mạch quốc gia công nhận để thường xuyên kiểm soát huyết áp của mình. Bạn lưu ý uống thuốc ngay khi huyết áp tăng để duy trì về mức dưới 130mmHg. Bên cạnh đó, bạn cần bỏ thuốc lá, cai rượu bia, hạn chế ăn mỡ động vật, phủ tạng động vật… Việc điều tiết chế độ ăn, làm việc và duy trì dùng thuốc sẽ giúp bạn kiểm soát được bệnh và tránh nguy cơ đột quỵ não.

Làm sao ngừa biến chứng do bệnh tiểu đường ?

- No Comments
Bệnh đái tháo đường hay còn gọi là bênh tiểu đường là một rối loạn chuyển hoá mãn tính có đặc điểm chính là glucose huyết trong máu tăng cao, gây tổn thương nhiều tổ chức, cơ quan trong cơ thể.

Đáng lo nhất: biến chứng mạch máu

Biến chứng thay đổi theo cơ chế sinh bệnh, nhưng yếu tố luôn hiện diện là tình trạng tăng glucose huyết kéo dài trong máu. Tuy nhiên, có một số bệnh nhân dù glucose huyết tăng cao lâu ngày, nhưng biến chứng rất ít. Một số bệnh nhân khác chỉ bị bệnh một thời gian ngắn nhưng lại nhiều biến chứng nặng, bởi ngoài tăng glucose huyết có thêm ảnh hưởng của di truyền, môi trường hoặc các bệnh đi kèm như tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu…
Một trong những tổn thương quan trọng nhất xảy ra ở hệ thống mạch máu, do đó biến chứng chính của bệnh đái tháo đường bao gồm biến chứng mạch máu lớn và biến chứng mạch máu nhỏ. Bệnh đái tháo đường cũng gây ra nhiều tổn thương ở các cơ quan khác như da, răng, miệng…
Biến chứng mạch máu nhỏ của bệnh đái tháo đường bao gồm: biến chứng ở đáy mắt còn gọi là bệnh võng mạc đái tháo đường; biến chứng ở thận còn gọi là bệnh thận đái tháo đường; biến chứng thần kinh còn gọi là bệnh thần kinh đái tháo đường; biến chứng mạch máu lớn của bệnh đái tháo đường có tổn thương chính là tình trạng xơ vữa động mạch với các hậu quả chính trên lâm sàng: đột quỵ (do thiếu máu não, xuất huyết não), hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua; bệnh cơ tim thiếu máu, nhồi máu cơ tim; bệnh mạch máu ngoại vi…

Giảm glucose huyết là giảm biến chứng

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh giảm glucose huyết là giảm được biến chứng. Một nghiên cứu kéo dài về bệnh đái tháo đường tại vương quốc Anh trên khoảng 5.000 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 cho thấy, sau thời gian theo dõi trung bình mười năm, nhóm giảm glucose huyết tích cực giảm các biến chứng mạch máu nhỏ khoảng 22% so với nhóm điều trị không tích cực. Một nghiên cứu ở bệnh nhân đái tháo đường týp 1 cũng có kết quả tương tự: 1.441 bệnh nhân đái tháo đường týp 1 sau thời gian theo dõi trung bình sáu năm rưỡi, nhóm được điều trị giảm glucose huyết tích cực có biến chứng mạch máu nhỏ (ở thận, đáy mắt và thần kinh) ít hơn nhóm giảm glucose huyết kém tích cực. Cả hai nghiên cứu đều đưa đến kết luận quan trọng: ngay từ khi mới chẩn đoán phát hiện bệnh đái tháo đường, nếu điều trị giảm glucose huyết thật tốt, sẽ giảm được cả biến chứng mạch máu nhỏ và mạch máu lớn.
Một nghiên cứu khác ở bệnh nhân đái tháo đường (tiểu đường) týp 2 đã có albumin niệu – nghiên cứu Steno (được thực hiện tại trung tâm đái tháo đường Steno ở Đan Mạch) cho thấy nếu điều trị tích cực và toàn diện tất cả yếu tố nguy cơ tim mạch của bệnh đái tháo đường như tăng glucose huyết, tăng huyết áp, tăng cholesterol máu, ngưng hút thuốc cùng với ăn uống đúng và luyện tập thể lực, có thể giảm được biến chứng ở mắt, thận, thần kinh; hơn thế nữa sau 13 năm, nhóm được điều trị tích cực tất cả các yếu tố giảm 50% các biến cố tim mạch và 50% nguy cơ tử vong.
Từ các kết quả nghiên cứu, mục tiêu điều trị của bệnh đái tháo đường đã được xác định: glucose huyết HbA 1c < 7%; huyết áp <130/80mmHg; LDL cholesterol < 100mg/dL khi bệnh nhân chưa bị biến cố tim mạch và <70mg/dL ở bệnh nhân đái tháo đường đã bị biến cố tim mạch; ngưng hút thuốc lá.
Để đạt được các mục tiêu trên, bệnh nhân nên tuân thủ điều trị theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ và lưu ý sử dụng thuốc luôn phải đi cùng chế độ ăn uống điều độ và luyện tập thể lực đều đặn.
PGS.TS.BS Nguyễn Thy Khuê
Đào tạo quốc tế chuyên sâu đái tháo đường cho Việt Nam
Ngày 1.12, tại TP Melbourne (Úc), công ty Sanofi chính thức công bố chương trình hợp tác với hội Nội tiết và đái tháo đường Việt Nam (VADE) và hội Đái tháo đường Mỹ (ADA) nhằm hỗ trợ kiểm soát hiệu quả hơn bệnh đái tháo đường ở Việt Nam. Theo đó, sẽ có hơn 1.500 bác sĩ Việt Nam trên toàn quốc được đào tạo và trang bị những kiến thức thực hành y khoa tiên tiến nhất từ ADA và VADE, để góp phần kiểm soát tốt vấn nạn sức khoẻ này ở Việt Nam. Tại lễ ký kết hợp tác, PGS.TS.BS Nguyễn Thy Khuê, chủ tịch VADE, cho biết hiện Việt Nam có hơn 5 triệu bệnh nhân đái tháo đường, nhưng chỉ hơn 1 triệu người được phát hiện và điều trị. Bà nói: “Tỷ lệ bệnh này đang có chiều hướng tăng nhanh, vì thế chúng ta cần hành động ngay để có thể kiểm soát bệnh đái tháo đường, đặc biệt ở giai đoạn sớm. Việc tăng nhận thức về bệnh và đào tạo bác sĩ Việt Nam là yếu tố quan trọng để thành công”.
SGTT.VN - Phan Sơn

Tim loạn nhịp do nhậu ngày nghỉ

- No Comments
Sau một thời gian làm việc căng thẳng, cơ thể đã rất mệt mỏi, các cơ quan quan trọng trong đó có tim cần được nghỉ ngơi để hồi phục. Vì vậy, trong những ngày nghỉ, nếu chúng ta tiếp tục bắt cơ thể phải làm việc nhiều hơn, phải chịu đựng một số lượng lớn các đồ uống có cồn thì việc chuyển hoá chúng qua gan và đào thải qua thận sẽ bị chậm lại, kết quả là tim luôn chịu tác động độc tính của rượu bia và loạn nhịp tim sẽ xảy ra.

Tim cũng biết say

Hội chứng “trái tim ngày nghỉ” chỉ những loại loạn nhịp tim xuất hiện trong ngày nghỉ ở những người trước đó không có tiền sử bệnh tim mạch, cấu trúc và chức năng tim hoàn toàn bình thường. Hội chứng này hay gặp ở người nghiện rượu, người có thói quen uống nhiều rượu bia vào ngày nghỉ và cả ở người khả năng dung nạp rượu bia kém. Loạn nhịp tim ngày nghỉ cũng có sự “đóng góp” của stress, thức đêm, mất nước và điện giải…
Có hai cơ chế giải thích tại sao uống rượu bia quá nhiều trong thời gian ngắn gây loạn nhịp tim:
Cơ chế thứ nhất là khi uống một lượng rượu bia lớn, lượng cồn trong máu tăng rất nhanh kích thích cơ thể sản xuất adrenaline và noradrenaline, gây co mạch, tăng huyết áp, kích thích tim đập nhanh, tăng tiêu thụ oxy của tế bào cơ tim.
Cơ chế thứ hai là do acetaldehyde (chất chuyển hoá của rượu) là một chất ôxy hoá mạnh có khả năng làm tăng các gốc tự do gây thương tổn tế bào và mô. Acetaldehyde cũng làm suy giảm khả năng phosphoryl hoá của ty lạp thể, từ đó làm giảm chuyển hoá tế bào trong đó có tế bào cơ tim. Các ester của axít béo hình thành trong quá trình chuyển hoá rượu cũng làm giảm quá trình phosphoryl hoá của ty lạp thể trong tế bào. Acetaldehyde cũng làm rối loạn sự lưu chuyển canxi giữa trong và ngoài tế bào làm tổn thương cơ tim, làm tăng co thắt mạch vành gây thiếu máu cơ tim, gây loạn nhịp tim.
Một số cơ chế khác cũng được đề cập như viêm cơ tim do rượu, tổn thương trực tiếp màng tế bào, mất cân bằng canxi, kẽm trong và ngoài tế bào, tăng hoạt hoá hệ renin-agiotensin…

Dấu hiệu loạn nhịp

Loại loạn nhịp hay gặp nhất là cơn nhịp nhanh trên thất và rung nhĩ hay còn được gọi là loạn nhịp hoàn toàn. Sau khi uống rượu bia, bệnh nhân thấy mệt mỏi, tức ngực, đánh trống ngực, cảm giác đau ngực, chẹn ngực và khó thở. Khám có thể thấy dấu hiệu tim đập nhanh, không đều hoặc loạn nhịp hoàn toàn. Xác định chẩn đoán bằng làm điện tim đồ khi cơn loạn nhịp đang xảy ra. Một số các loại loạn nhịp khác cũng có thể xuất hiện sau khi lạm dụng rượu như ngoại tâm thu, mà bệnh nhân thường cảm thấy tim thỉnh thoảng bỏ một vài nhịp.
Thông thường, tất cả các loại loạn nhịp nói trên đều mất đi khoảng 24 giờ sau khi ngừng uống rượu, bia, cơ thể được cung cấp đầy đủ nước, các chất dinh dưỡng và nghỉ ngơi hoàn toàn.

Thương lấy con tim

Vì nguyên nhân chính là rượu bia nên cách phòng tránh tốt nhất là tránh say xỉn trong những ngày này. Các biện pháp tiếp theo là bổ sung dinh dưỡng đầy đủ (bao gồm các vitamin, đặc biệt là vitamin B1, vitamin B12… các chất điện giải và các yếu tố vi lượng). Uống đủ nước, không hoạt động thể chất quá sức, dành nhiều thời gian thư giãn cũng góp phần làm giảm tỷ lệ loạn nhịp tim.
SGTT.VN - TS.BS Vũ Đức Định, trưởng khoa hồi sức tích cực, bệnh viện E Trung ương

Tim muốn khoẻ phải hoà nhịp đập

- No Comments
Sự phát triển của y khoa nói chung và ngành tim mạch nói riêng giúp trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh ngày càng được điều trị tốt hơn. Tuy nhiên, chỉ điều trị khỏi bệnh hoặc giúp trẻ khoẻ hơn là chưa đủ.
Trẻ còn phải được học tập, trau dồi tri thức và văn hoá để phát triển toàn diện cả thể chất lẫn tinh thần. Vì vậy, thời điểm sau khi điều trị bệnh chính là cột mốc đánh dấu một khởi đầu mới trong đời trẻ: tiến trình trở lại hoà nhập toàn diện với xã hội.

Bệnh tim vẫn có thể phát triển bình thường

Bệnh tim bẩm sinh là các dị tật của buồng tim, van tim, vách tim và các mạch máu lớn, xảy ra từ trong bào thai. Tần suất bệnh là 8/1.000 trẻ ra đời còn sống. Bệnh sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến quá trình phát triển của trẻ nhưng nhìn chung, phần lớn trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh có thể phát triển như bình thường.
Tuỳ thuộc vào loại dị tật, mức độ nặng nhẹ, thời điểm điều trị sớm hay muộn mà có ảnh hưởng khác nhau: tổn thương nhẹ gần như không gây tác hại gì hoặc không ảnh hưởng đến trẻ ở giai đoạn đầu của bệnh; tổn thương nặng thường gây ra triệu chứng sớm – trẻ dễ mệt mỏi, hạn chế trong sinh hoạt, chậm lớn, khó khăn trong quá trình trưởng thành về thể chất, tinh thần... Đặc biệt, trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh có tím da niêm, bệnh nặng và kéo dài sẽ ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát triển thể chất và trí thông minh do tình trạng thiếu mãn tính oxy cung cấp cho não và cơ thể.
Sau phẫu thuật, chỉ một số ít trẻ lớn có thể gặp những vấn đề về vận động, hành vi, ngôn ngữ, sự tập trung, trí nhớ… Nếu được phẫu thuật ở tuổi còn rất nhỏ thì khi lớn lên, trẻ gần như không có dấu ấn gì về cuộc phẫu thuật. Thêm nữa, nếu giải quyết được triệt để bệnh, trẻ gần như sẽ phát triển bình thường.

Chìa khoá kiến thức

Thường thì phần lớn tuổi thơ của một đứa trẻ là gắn bó với trường học. Tại đây, trẻ sẽ học được các kỹ năng, kiến thức về đọc, viết, toán học, văn hoá, tiếp xúc với bạn bè… Vì vậy, nếu có thể, nên cho trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh tới trường, nhất là sau khi trẻ đã được điều trị, có sức khoẻ để tham gia học tập. Tiến trình điều trị cho trẻ sẽ không hoàn hảo nếu chỉ giúp trẻ khoẻ mạnh mà không có được tri thức, văn hoá. Kiến thức sẽ là chiếc chìa khoá giúp trẻ mở toang mọi cánh cửa trong cuộc sống sau này.
Một số cha mẹ thường e ngại rằng đi học hay vận động sẽ khiến trẻ mệt, không tốt cho sức khoẻ và tim (ngay cả khi bệnh đã được điều trị). Điều này không đúng! Dĩ nhiên, mỗi trẻ có sức khoẻ, tình trạng bệnh lý khác nhau, phương pháp điều trị khác nhau, điều trị khỏi hẳn hay tạm thời… nhưng nhìn chung, mọi trẻ đều có thể tham gia học tập. Bác sĩ điều trị sẽ cho lời khuyên về những hoạt động, mức độ vận động trẻ có thể tham gia, những vấn đề sức khoẻ cần theo dõi… khi học tập tại trường cũng như trong sinh hoạt hàng ngày.
Nếu trẻ được phẫu thuật lúc còn nhỏ, khi lớn lên, đi học, trẻ thường dễ dàng hoà nhập với trường lớp như những trẻ khác. Với trẻ đang ở lứa tuổi đi học, sau phẫu thuật khoảng hai tuần đến một tháng là phần lớn đã có thể trở lại trường. Những trẻ này, có thể vì đã nghỉ học một thời gian dài để chữa bệnh, hoặc do việc học bị ảnh hưởng bởi sức khoẻ không tốt trước phẫu thuật nên khi học lại có thể khó thích nghi, tiến chậm hơn bạn cùng lớp... khiến một số trẻ trở nên lo lắng, căng thẳng, không hài lòng, chán nản... Khi ấy, cha mẹ và thầy cô có vai trò rất quan trọng trong việc giúp đỡ trẻ học tập, hội nhập với trường lớp, vượt qua những khó khăn. Tuy nhiên, thầy cô cũng nên đối xử với trẻ bình đẳng như những trẻ khác để tránh gây cho trẻ mặc cảm bệnh tật khiến trẻ kém tự tin.

Hoà mình vào cuộc sống

Trẻ được điều trị khỏi hẳn bệnh tim thường có thể sinh hoạt bình thường, không bị giới hạn về hoạt động thể lực. Khoẻ mạnh trong người, tự nhiên trẻ sẽ trở nên hoạt bát, năng động, lanh lợi, vui giỡn, nô đùa… đúng với bản tính trẻ con. Tuy nhiên, trẻ có thể e dè trước những hoạt động chưa từng trải nghiệm hoặc không được phép thực hiện khi bị bệnh nên cha mẹ cần hỗ trợ và khuyến khích trẻ mạnh dạn tham gia các hoạt động thể thao, các sinh hoạt trong gia đình, xã hội.
Với trẻ mắc bệnh tim nặng, chỉ được phẫu thuật sửa chữa tạm thời hoặc không thể điều trị khỏi hẳn bệnh, để tim không phải gắng sức quá mức, có thể trẻ cần giới hạn phần nào hoạt động thể lực trong sinh hoạt hàng ngày, không được chơi những môn thể thao đối kháng hoặc vận động mạnh. Bác sĩ điều trị sẽ cho biết môn thể thao và mức độ hoạt động thể lực nào phù hợp với tình trạng trẻ. Sẽ thật khó khăn, nhất là với những trẻ lớn, khi trẻ không thể tham gia hết mình vào các môn thể thao cũng như khi vui chơi với bạn bè. Trẻ sẽ có cảm giác “đứng ngoài lề” cuộc chơi, cảm thấy thất vọng, đặc biệt là với những trẻ đã từng yêu thích và chơi tốt một môn thể thao nào đó. Cha mẹ cần giải thích cho trẻ hiểu song song với việc động viên trẻ.
Trẻ cần được khuyến khích kết bạn, tham gia các hoạt động trong gia đình và cộng đồng để từng bước hoà nhập xã hội. Trẻ cũng cần được định hướng phát triển những kỹ năng trong nhiều lĩnh vực để khi lớn lên, trẻ có thể kiếm được công việc phù hợp với khả năng và sức khoẻ.
Theo SGTT.VN - ThS.BS Ngô Bảo Khoa,
khoa phẫu thuật tim mạch, bệnh viện đại học Y dược TP.HCM.

Dùng sữa rửa mặt sao cho đúng?

- No Comments
“Tôi xem chương trình làm đẹp trên tivi thấy có hướng dẫn đi ngoài đường về nhà nên xài sữa rửa mặt để có làn da sạch, khoẻ. Tuy nhiên tôi làm theo thì cảm giác da bị khô hơn so với chỉ dùng nước sạch rửa. Tại chất lượng sản phẩm hay hướng dẫn đó sai?”
Hoài An (lehoaian2012@...)
PGS.TS.BS Nguyễn Duy Hưng, tổng thư ký hội Da liễu Việt Nam: Nếu dùng đúng cách thì sữa rửa mặt có thể dùng hai lần một ngày mà không làm khô da mặt, vào buổi sáng ngủ dậy và chiều tối sau khi ở ngoài đường về. Trong trường hợp dùng thường xuyên mà da bị khô thì có thể là do chọn loại sữa rửa mặt chưa phù hợp làn da. Tốt nhất nên chọn loại sữa phù hợp với da, ví dụ da bị khô thì cần chọn loại sữa rửa mặt làm ẩm da. Lấy một chút ra tay và đánh tạo bọt trước khi sử dụng, nhất là các loại sữa rửa mặt dạng hạt, để chúng không làm tổn thương da. Dùng phần bọt đã đánh thoa lên mặt theo chiều lỗ chân lông. Mátxa nhẹ nhàng da mặt, nhất là vùng chỏm mũi, hai bên khoá mũi, trán, những nơi dễ bám bụi để tẩy sạch chất bẩn. Không để sữa rửa mặt lâu trên da vì chúng có thể làm khô da. Dùng nước rửa sạch mặt và thấm khô bằng khăn. Sau khi dùng sữa rửa mặt, cần dùng thêm kem dưỡng da, giữ cho da có độ ẩm và phục hồi làn da khi chịu tác động từ môi trường.

Bệnh tim bẩm sinh có nên lấy chồng, sinh con ?

- No Comments

Bệnh tim bẩm sinh có nên lấy chồng, sinh con ?

“Tôi 27 tuổi, bị bệnh tim bẩm sinh nhưng chưa từng đến bệnh viện điều trị. Hiện tôi chuẩn bị kết hôn nhưng có người khuyên không nên lấy chồng, nếu không sẽ chết sớm. Xin hỏi bệnh tim bẩm sinh có di truyền khi tôi sinh con không?”
Hoa Sen (hoasen2008@...)
GS.TS.BS Phạm Gia Khải, chủ tịch hội Tim mạch học Việt Nam: Bệnh tim bẩm sinh có từ khi còn là bào thai, chia làm hai loại chính: loại có tím và không có tím. Không biết bệnh tim của bạn có tím hay không? Hiện nay y khoa có thể giải quyết bằng hai cách: thứ nhất không phải mổ mà đưa ống thông vào để bít qua siêu âm tim, hoặc nếu không thể bít được thì người ta mổ. Hiện nay các bệnh viện đều có khả năng làm được cả hai kỹ thuật này. Bạn nên đi khám để biết được loại gì. Nếu có bệnh tim bẩm sinh thì thầy thuốc phải tìm cho ra bệnh này và trả lời được câu hỏi trong tương lai có diễn tiến, giải quyết được hay không, khi đó sẽ đưa lời khuyên có nên kết hôn không. Đại đa số các trường hợp có thể lấy chồng và sinh con được. Tim bẩm sinh có những trường hợp di truyền và không di truyền. Cho tới nay người ta chưa chắc chắn lắm.

Uống nước cũng phải có cách ?

- No Comments

Uống nước cũng phải có cách ?

“Tôi thường nghe trên tivi nói uống nhiều nước hàng ngày rất có lợi cho sức khoẻ. Tuy nhiên, mới đây tôi đọc trên internet thấy có tài liệu nói uống nước nhiều quá có thể bị úng não. Xin hỏi nguy cơ này có đúng không? Nên uống nước thế nào?”
Tuấn Vương (soidacodon29@...)
TS.BS Nguyễn Bách, trưởng khoa thận nhân tạo, bệnh viện Thống Nhất TP.HCM: Cơ thể cần một lượng nước nhất định và vừa đủ. Nếu bạn uống nước quá nhiều, đặc biệt không kèm theo muối, cơ thể sẽ bị ngộ độc nước. Nước sẽ đi vào trong tế bào não gây phù não. Do vậy, sau khi cơ thể mất nước nhiều (ví dụ như sau khi vận động mạnh, chơi thể thao hoặc bị mất nước do tiêu chảy…) không nên uống một lúc thật nhiều nước ngay lúc đó. Tốt nhất, bạn nên uống chậm và liên tục. Nếu trường hợp phải bù nước số lượng lớn thì cần pha thêm một lượng nhỏ muối hoặc đường.

Tinh thần người bệnh tiểu đường – những điều cần quan tâm

- No Comments
Tâm lý hoang mang, lo lắng là tâm lý chung của người bệnh. Với những biến chứng rất đáng sợ như ở bệnh đái tháo đường (tiểu đường) (TĐ), tâm lý người bệnh sẽ càng nặng nề hơn khi bị các biến chứng hầu hết tập trung ở thần kinh, mắt, chân, thận…Việc chấn động tâm lý vậy càng làm cho bệnh tình trầm trọng hơn. Có thể nói chăm lo tinh thần người bệnh TĐ cũng quan trọng như việc chữa trị căn bệnh này.
Người bệnh khó chấp nhận căn bệnh nên các tâm lý chán nản, bi quan là có thể thấy được. Lúc này, vai trò của những người thân là rất quan trọng. Người thân (nhất là vợ hoặc chồng) phải hiểu vai trò của mình và tâm lý người bệnh nhằm có các can thiệp hợp lý để mang lại sự cân bằng tâm lý cho người bệnh.
Giúp người thân vượt qua tâm lý chung của bệnh TĐ là việc làm cần làm trong giai đoạn đầu. Thông cảm và hiểu rõ bệnh là tối quan trọng của người người bạn đời lúc này. Sự thông cảm sẽ giúp người bệnh an tâm, không hoang mang vì đối với bệnh nhân, mắc bệnh đã là điều quá bất hạnh. Phải hiểu rõ tâm lý người bệnh lúc này vì tâm lý chung là rất lo sợ, không khí nặng nề từng ngày trôi qua. Giai đoạn này người bệnh cần một chỗ dựa vững chãi, tận tụy và có tâm hồn đồng điệu. Lúc này chồng, hay vợ khi chăm sóc người bệnh cũng phải từ bỏ những thói quen ăn uống hằng ngày và cùng người bệnh thực hiện lối sống lành mạnh như tập thể dục, nhắc nhở kiểm tra lượng đường huyết…
Tâm lý người bệnh TĐ là một tâm lý đặc trưng. Nỗi buồn bực, sợ hãi khi biết mắc bệnh cộng thêm tâm lý hoang mang khi biết những biến chứng khủng khiếp của bệnh càng làm trầm trọng thêm bệnh tình. Theo nhiều chuyên gia, khi có kết luận về bệnh bệnh nhân và chồng (hay vợ) phải ngồi xuống với nhau, trò chuyện và nói cho nhau nghe tất cả không giấu những nỗi sợ hãi của mình. Người bệnh sẽ càng tin tưởng người kia đang rất quan tâm và cả hai đều muốn vượt qua căn bệnh này. Các nghiên cứu chỉ ra lượng đường của người bệnh 65 tuổi cải thiện rõ rệt khi người chăm sóc họ hiểu biết nhất định về căn bệnh này.
Người bệnh cần nhiều thứ từ người chăm sóc mình để vượt qua tâm lý hoang mang, vì vậy người chồng (hay vợ) lúc này cần hết sức mềm mỏng và kiên nhẫn. Đồng hành cùng người bệnh đòi hỏi sự kiên nhẫn rất nhiều nơi người chăm sóc. Sự thật lòng muốn chia sẻ cần một sự kiên nhẫn để người bệnh nhận ra. Tâm lý hoang mang dẫn đến dễ tổn thương là điều thường thấy nơi người bệnh, vì thế cần mềm mỏng trong cách đối xử, tránh thái độ kể cả, ra lệnh càng làm cho bệnh tình nặng thêm (stress, tủi thân…) và dễ tăng đường huyết. Khi tâm lý người bệnh dần ổn định thì kéo theo nhiều thuận lợi trong việc áp dụng chế độ ăn, nên nhớ chế độ ăn là chìa khóa giúp kiểm soát lượng đường.
Người chăm sóc nên khéo léo tạo tâm lý chữa bệnh cho người bệnh. Bệnh nên được ý thức chăm sóc từ người bệnh, dần dần người bệnh sẽ hiểu bệnh TĐ cần một thái độ đúng để vượt qua. Chế độ ăn uống kèm theo là luyện tập thể thao hằng ngày giúp xoa dịu nhiều thứ. Tập thể thao như vui thú hằng ngày và ăn uống vui vẻ, chế độ sẽ làm cuộc sống thú vị hơn. Đừng tiết kiệm những lời khen tặng vì đó là sự ghi nhận các bên giành cho nhau, giúp đồng điệu hóa cuộc sống cả hai. Một cuộc sống vui tươi giúp cân bằng lượng đường và giúp ích rất nhiều cho người bệnh.
Một điều cũng được quan tâm nhiều là lối sống có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành bệnh tiểu đường. Một nghiên cứu ở Anh cho thấy tỷ lệ nhiễm bệnh của người có chồng hay vợ bị bệnh TĐ tuýp 2 cao gấp 2 lần người bình thường. Do cả hai cùng có chung lối sinh hoạt (chế độ ăn, sinh hoạt tình dục…) nên khả năng nhiễm bệnh sẽ lớn, vì vậy người có chồng hay vợ nhiễm bệnh cần thiết phải được phát hiện sớm và có các phương pháp điều trị kịp thời.

Khi cơ thể phát tín hiệu SOS!

- No Comments

Khi cơ thể phát tín hiệu SOS!

Cơ thể phát nhiều tín hiệu cảnh báo khi gặp vấn đề. Điều đáng lo ngại là người cao tuổi đôi khi không biết đó là những dấu hiệu kêu cứu để kịp thời chạy chữa.
Mạng sống chính là cái giá phải trả cao nhất cho việc lơ là những tín hiệu báo bệnh ở người cao tuổi. Không chỉ các cụ mà con cháu trong nhà cũng cần phải có cách xử trí phù hợp khi thấy các tín hiệu dưới đây.

Đột quỵ

Nếu có các biểu hiện như yếu liệt hoặc tê rần ở vùng mặt, tay hoặc chân, đặc biệt là một bên cơ thể, chỉ một tay hoặc một chân, lú lẫn, rối loạn lời nói hoặc hiểu biết (khó tìm từ hoặc không hiểu từ, nói líu ríu, lắp bắp), chóng mặt, nhìn một thành hai, nói lắp, khó khăn khi nói chuyện, đặc biệt là liệt nửa người… thì hãy xem chừng vì đây là những dấu hiệu của đột quỵ.
Cần làm ngay:
Liên hệ với trung tâm cấp cứu hoặc bệnh viện gần nhất, nơi có trang bị phương tiện điều trị tai biến mạch máu não. Trấn an bệnh nhân. Theo dõi thường xuyên tri giác và tình trạng liệt của bệnh nhân. Có thể hô hấp nhân tạo cho các cụ nếu xảy ra tình trạng ngưng thở. Hãy xử lý thật nhanh chóng vì 3 giờ đầu ngay sau xảy ra cơn đột quỵ là thời gian vàng để cấp cứu

Đau tim

Với các dấu hiệu như khó chịu ở ngực, đau vùng cánh tay, hàm hoặc cổ, toát mồ hôi lạnh, cực kỳ mệt và yếu sức, buồn nôn, nôn mửa, hoặc khó thở, hơi thở ngắn… thì hãy cẩn thận vì đây thường là các dấu hiệu cảnh báo của một cơn đau tim sắp tới.
Cần làm ngay:
Nói chung, tốt nhất là gọi cấp cứu khi nghi ngờ một người bị lên cơn đau tim. Chần chứ một hay hai tiếng để lựa chọn về cách cứu chữa có thể làm giảm nguy cơ may phục hồi hoàn toàn của người bệnh. Người thân trong nhà cũng không nên chờ để xem các triệu chứng có hết không mà tốt nhất hãy gọi cấp cứu bất kể các triệu chứng diễn tiến tiếp ra sao. Chú ý rằng ở người già cơn đau tim phát ra nhiều khi không đi kèm theo cảm giác đau.

Trục trặc ở thận

Dấu hiệu rõ ràng nhất được ghi nhận là đi tiểu ra máu
Cần làm ngay:
Dù bất cứ lúc nào thấy máu trong nước tiểu hãy gọi cho bác sĩ, ngay cả khi không còn cơn đau nào. Các cụ có thể đang bị sỏi thận, sỏi bàng quang, nhiễm trùng tuyến tiền liệt. Nghiêm trọng hơn đó có thể là dấu hiệu ung thư thận, niệu quản, bàng quang, tuyến tiền liệt.

Huyết khối tĩnh mạch sâu

Huyết khối tĩnh mạch sâu có thể phát triển nếu ngồi liên tục trong thời gian dài, chẳng hạn như ngồi máy bay, xe hoặc cơ thể đang mắc bệnh sẵn có… đây là một tình trạng nghiêm trọng vì máu đông hình thành trong tĩnh mạch có thể đi đến phổi gây tử vong. Hãy để ý những dấu hiệu như đau mắt cá chân và bàn chân, tấy đỏ và sưng đau cánh tay hoặc cổ, đau ngực, khó thở, hoặc ho ra máu.
Cần làm ngay:
Tình trạng này có thể đe dạo tính mạng, do đó hãy đến phòng cấp cứu.

Mất nước

Đặc biệt với các cụ nằm liệt giường, người nhà cần chú ý các dấu hiệu như: khô miệng, lưỡi, không thể đi tiểu hoặc chỉ có một lượng nhỏ nước tiểu, nước tiểu vàng đậm, chuột rút, khô mắt, da không có độ đàn hồi, thở nhanh hơn bình thường …
Cần làm ngay:
Làm mọi cách để bù nước cho các cụ. Khuyến khích các cụ uống nhiều loại nước nhất là các nước điện giải, tránh xa rượu, thức uống chứa cafein.

Hen suyễn

Cơn suyễn được nhận biết bằng dấu hiệu thở khò khè hoặc khó thở. Tuy nhiên những biểu hiện này cũng rất dễ bị nhầm với các bệnh khác mà người cao tuổi thường mắc phải.
Cần ngay làm:
Nếu các cụ gặp phải một cơn hen suyễn mà không được điều trị kịp thời, nó có gây mệt, khó thở, nặng ngực và thậm chí tử vong. Vậy nên, với những cụ có tiền sử hen suyễn, phải luôn mang theo mình thuốc xịt để giữ đường thở không bị tắc nghẽn khi lên cơn hên cấp. Tiếp đó, người nhà cần khẩn trương đưa các cụ đến cơ sở y tế gần nhất để cấp cứu kịp thời.

Trầm cảm và ý nghĩ tự tử

Các triệu chứng của trầm cảm bao gồm buồn bã, mệt mỏi, thờ ở, lo âu, thay đổi thói quen ngủ và chán ăn. Trầm cảm có thể được điều trị bằng thuốc và tâm lý trị liệu.
Cần làm ngay:
Nếu quan sát thấy các dấu hiệu trên xảy ra với các bậc cao niên nhà mình, hãy quan tâm đến các cụ nhiều hơn và thuyết phục các cụ đến bệnh viện tư vấn và thăm khám, tránh việc đáng tiếc xảy ra.

Xoa dịu những cơn đau của tuổi già

Một số người nghĩ rằng đau là hiện tượng tự nhiên với tuổi già và cho rằng chẳng qua là các cụ hay phàn nàn mà thôi. Chính bản thân các cụ cũng không ít lần xem nhẹ cơn đau của mình.
Thực ra, ẩn sau mỗi cơn đau dù nhẹ vẫn cần được tìm hiểu nguyên nhân và cần được xoa dịu. Vì vậy khi các cụ kêu đau bệnh nên tin và kiểm tra và từ đó chọn cách thích hợp giúp các cụ giảm đau.
Nếu đã tìm hiểu rõ nguyên nhân khiến các cụ bị đau, ngoài việc tuân thủ hướng dẫn của bác sĩ bệnh có thể thực hiện vài cách dưới đây giúp các cụ cảm thấy dễ chịu hơn:
-       Sử dụng nước ấm hay chăn lau mặt ấm áp để tắm, lau rửa mặt mũi tay chân cho các cụ, nhiệt giúp thư giãn cơ bắp, giúp giảm đau và tạo cảm giác thoải mái.
-      Làm mát da và cơ bắp cam làm dịu cơn đau, đặc biệt là đau do viêm hoặc sưng.
-      Chuẩn bị chỗ ngồi, nằm thoải mái.
-      Khuyến khích các cụ tập thở chậm, sâu giúp tâm trí và cơ thể thư giãn và giúp giảm đau.
-      Tạo các hoạt động thú vị như xem tivi, nghe nhạc nhẹ, đọc sách, truyện, trao đổi các vấn đề yêu thích của các cụ…
-      Tránh gây căng thẳng cho các cụ.
Theo Minh Hải tập san Sức khỏe.