Tin mới

Bài mới

Đặc điểm biến hóa bệnh lý mạch máu não do bệnh tiểu đường

- Thứ Năm, ngày 11 tháng 12 năm 2014 No Comments

Đặc điểm biến hóa bệnh lý mạch máu não do bệnh tiểu đường

Bệnh mạch máu não do bệnh tiểu đường gây ra chủ yếu là hình thành sự tắc nghẽn mạch máu não, người xuất huyết não tương đối ít thấy. Căn cứ vào thống kê, tắc nghẽn mạch máu não do bệnh tiểu đường gây ra cao gấp hơn 3 lần so với người không mắc bệnh tiểu đường. Người bệnh tiểu đường rất dễ phát sinh tắc nghẽn mạch máu não là vì độ dính của huyết dịch tăng cao, tế bào hồng cầu được tăng cường tập trung, cùng với những nguyên nhân khác như sự kết dính của huyết tiểu bản đối với vách huyết quản, hoặc cơ năng ngưng tụ tập kết giữa các huyết tiểu bản với nhau v.v…mà gây nên.
Ngoài ra, sự biến hóa bệnh lý mạch máu não của người tiểu đường thường thấy nhiều ở sự xơ cứng tắc nghẽn trong bộ não với phạm vi nhỏ và phát sinh ra nhiều các ổ bệnh. Biểu hiện lâm sàng việc phát tác trúng phong ở độ nhẹ thường xuất hiện nhiều lần mà biểu hiện là những triệu chứng như bán thân bất hoại, đần độn, ngốc nghếch v.v…
Khi chẩn đoán bệnh nhân mạch máu não là do bệnh tiểu đường gây ra cần phải bày trừ “tiểu đường mang tính ứng kích” do bệnh mạch máu não không phải do bệnh tiểu đường dẫn tới. Còn cần phải chú ý bệnh nhân tiểu đường tuy rất dễ phát sinh bệnh mạch máu não, thế nhưng các loại thay thế khác thường của bệnh tiểu đường cũng rất dễ sản sinh ra đặc trưng cơ thể mang tính cục bộ gây trở ngại cho ý thức và hệ thần kinh.
Vì vậy, bình thường người mắc bệnh tiểu đường cần phải chú ý mức độ đường huyết, huyết áp và tình trạng mỡ trong máu, khiến cho biến chứng bệnh lý mạch máu ở thời kỳ đầu của bệnh tiểu đường có thể được cứu chữa phòng trừ sự phát triển thêm một bước của bệnh xơ cứng động mạch.
(Theo sách cẩm nang dùng trong gia đình “365 ngày với bệnh tiểu đường”)

Biến hóa bệnh lý tim ở người bệnh tiểu đường

- No Comments

Biến hóa bệnh lý tim ở người bệnh tiểu đường

Người bệnh tiểu đường ngoài việc tương đối dễ phát sinh xơ cứng động mạch vành dạng cháo ở bên ngoài thành cơ tim dẫn tới bệnh đau vành tim và tắc nghẽn cơ tim ra, còn có thể dẫn đến bệnh tim mang tính chất của bệnh tiểu đường. Tỷ lệ phát sinh xơ cứng hóa động mạch cháo và xơ cứng hóa động mạch ở người bệnh tiểu đường cao hơn người bình thường, hơn thế lại phát sinh sớm, biến hóa bệnh lý tương đối nghiêm trọng. Bởi khi chữa trị bệnh tiểu đường đã sử dụng insulin và kháng khuẩn tố, rõ ràng đã hạ thấp tỷ lệ phát sinh trúng độc axit và cảm nhiễm của bệnh tiểu đường khiến cho bệnh xơ cứng hóa động mạch cháo và bệnh đau vành tim chiếm giữ địa vị quan trọng trong sự biến chứng của bệnh tiểu đường. Căn cứ vào việc kiểm tra thi thể của 175 bệnh nhân tiểu đường có quá trình bệnh từ 15 năm trở lên, có 77% xơ cứng hóa động mạch dạng cháo, trong đó có 43% chết vì bệnh đau vành tim.
Người bệnh tiểu đường kèm theo cao huyết áp có thể dẫn đến bệnh cơ tim nghiêm trọng, người mắc bệnh tim có cơ tim béo dầy mang tính chất hướng tâm, tổ chức cơ tim phát sinh sợi hóa dẫn đến cơ tim xơ cứng hóa, ảnh hưởng tới sự co lại của cơ tim mà sản sinh ra bệnh cơ tim. Cơ lý phát bệnh dẫn đến bệnh cơ tim ở bệnh tiểu đường nói chung cho rằng thiếu máu cơ tim là do biến hóa bệnh lý của động mạch vành dẫn đến, dẫn tới lực trương ra của cơ tim co lại và tăng thêm sự hao tổn lượng oxy, khiến cho cơ tim to béo, buồng tim phình to, kết quả là đã tăng thêm độ cương cứng của cơ tim.
Căn cứ vào thống kê, người bệnh tiểu đường phát sinh tắc nghẽn cơ tim cấp tính nhiều hơn người không mắc bệnh tiểu đường, nam giới gấp 1.5 lần, nữ giới gấp 3 lần. Hơn thế triệu chứng lâm sàng cực kỳ không điển hình, bệnh nhân không đau đớn, chỉ thấy buồn nôn, mửa tháo, suy kiệt tâm lực mang tính sung huyết, hoặc nhịp tim không đều, có những cơn choáng mang tính chất nguồn tim, hoặc chỉ thể hiện mệt mỏi, vì vậy rất dễ chẩn đoán sót, chẩn đoán sai, cần phải hết sức chú ý.
(Theo sách cẩm nang dùng trong gia đình “365 ngày với bệnh tiểu đường”)

HẠT CHIA TOP 5 THỰC PHẨM TĂNG NĂNG SUẤT CHO NGƯỜI HOẠT ĐỘNG TRÍ NÃO

- No Comments

5 THỰC PHẨM TĂNG NĂNG SUẤT CHO NGƯỜI HOẠT ĐỘNG TRÍ NÃO

Não của chúng ta là cỗ máy sinh học vô cùng mạnh mẽ. Não kiểm soát tất cả tư tưởng, logic, và cảm giác khi tính toán và phản ứng với tình huống. Lưu trữ một bộ sưu tập khổng lồ các dữ liệu như âm thanh, hình ảnh, văn bản v.v. Những hoạt động này làm cho não của chúng ta là nơi tiêu thụ năng lượng tham lam nhất trong cơ thể chúng ta, trọng lượng chỉ có 2% của tổng số trọng lượng cơ thể của, nhưng tiêu thụ hơn 20% lượng calo của chúng ta. Một nửa số năng lượng đó được sử dụng cho việc truyền các thông điệp điện sinh học hình xoắn ốc, thông qua các tế bào thần kinh và đi khắp cơ thể.
Não của chúng ta có 60% thành phần được tạo thành từ chất béo cho nên một chế độ ăn thiếu chất béo có thể gây nên chứng trầm cảm, bệnh Alzheimer và chứng mất trí. Bạn phải lựa chọn những chất béo tốt thường được tìm thấy trong các loại hạt, các loại hạt giống, tảo, dầu dừa, và bơ. Chúng chứa các axit béo omega 3 và omega 6 béo thiết yếu mà não bộ chúng ta rất cần.

Quả bơ

Quả bơ là nguồn cung cấp chất béo không bão hòa đơn, omega-3 và omega 6. Chúng tăng lưu lượng máu đến não, giảm cholesterol, và hỗ trợ trong việc hấp thụ các chất chống oxy hóa. Ngoài ra Bơ còn có vitamin E, giúp bảo vệ cơ thể và bộ não khỏi bị hư hại gốc tự do. Họ cũng là một nguồn cung cấp kali và vitamin K vừa bảo vệ não khỏi nguy cơ đột quỵ.

Hạt Chia – ngũ cốc của người Mayan

Hạt Chia có rất nhiều công dụng, siêu thực phẩm này rất giàu axit béo omega 3, khoáng chất, đạm và cả chất xơ hòa tan, không hòa tan, giúp hạt chia có thêm tính năng kéo dài Hydrat hóa , rất quan trọng cho hoạt động trí não. Hàm lượng chất chống oxy cao chống lại các gốc tự do, dẫn đến lão hóa sớm, bệnh Alzheimer và chứng mất trí  giữ cho máu lưu thống tốt.

Dầu dừa

Dầu dừa chứa triglycerides mà cơ thể có thể sử dụng làm năng lượng và để dành những năng lượng khác cho bộ phận não. Không những vậy dầu dừa còn có lợi cho tim mạch và giúp máu não lưu thông tốt.

Quả việt quất

Là một kho tàng chống oxy hóa, bảo vệ não khỏi bị hư hại do oxy hóa. Các flavonoid trong quả việt quất cũng cải thiện giao tiếp giữa các tế bào thần kinh, cải thiện trí nhớ, học tập, và tất cả các chức năng nhận thức, bao gồm cả lý luận, ra quyết định, hiểu biết bằng lời nói.

Bông cải xanh

Bông cải xanh là một siêu rau xanh cho toàn bộ cơ thể. Rất giàu canxi, vitamin C, vitamin B, beta-carotene, sắt, chất xơ và vitamin K. Các chất dinh dưỡng bảo vệ chống lại các gốc tự do, giữ cho máu lưu thống tốt, và loại bỏ các kim loại nặng có thể gây tổn hại não.

Hạt Chia - Chất béo lành mạnh cho trẻ em khỏe mạnh

- No Comments

Chất béo lành mạnh cho trẻ em khỏe mạnh

Quay trở lại trường học sau một khoảng thời gian....Khoảng thời gian đó đã làm cho bộ não trẻ tiếp xúc với những thói quen bên ngoài mà quên nề nếp từ môi trường giáo dục. Bộ não được cấu thành từ sáu mươi phần trăm (60%) chất béo…và các axit béo thiết yếu khác… Chúng rất cần thiết cho sức khỏe của chúng ta, nhưng cơ thể của chúng ta không sản sinh ra chúng được…
Chất béo đôi khi được gọi là dầu Omega hay dầu cá và bao gồm sự kết hợp của các axit béo khác như DHA, EPA và GLA. Chúng ta hấp thụ được chúng thông qua các loại thực phẩm như là cá, rong biển, nhuyễn thể, nhiều loại thực vật khác và các loại dầu được chiết xuất từ các loại hạt.
Các axit béo thiết yếu đóng vai trò rất quan trọng trong chức năng não, thích hợp cho não tăng trưởng và phát triển bình thường. Ngày càng số lượng trẻ em thiếu axit béo thiết yếu tăng lên, đặc biệt là Omega-3, vì trong chế độ ăn hàng ngày thiếu cá, các loại hạt và thực vật, thực phẩm chế biến quá lâu trên bếp, nấu quá mức cũng là một phần lý do cho sự thiếu hụt ấy…
Dầu cá và những loại dầu Omega khác đã cho thấy sự tác động tích cực đến trẻ em, những đứa trẻ biểu lộ bệnh “hội chứng thiếu chú ý” (ADD – Attention Deficit Disorder) và “chứng thiếu sự tập trung lâu dài” (ADHD – Attention Deficit/Hyperactivity Disorder), rối loạn phát triển, rối loạn cảm xúc (trầm cảm), dị ứng và bệnh về đường hô hấp. Các nghiên cứu gần đây cho thấy Omega-3 trong cơ thể trẻ quá thấp sẽ bị kém phát triển về trí tuệ và về các vấn đề về nề nếp, cách cư xử và hành động. Các nghiên cứu gần đây cũng khuyến cáo rằng trẻ em nên tiêu thụ nhiều thực phẩm có chứa dầu cá sẽ giảm nguy cơ mắc bệnh về dị ứng và các bệnh liên quan đến đường hô hấp. Các nghiên cứu khác đã liên kết bổ sung Omega-3 với những cải tiến trong kỹ năng vận động, thói quen đọc sách, trí nhớ và sự tập trung.
Suy nghĩ thứ hai được cho rằng thay vì tác động trở lại bộ não của trẻ thì chúng ta hãy làm cho bộ não của trẻ hoạt động một cách suông sẽ, tích cực và thực hiện tốt nhất. Dầu cá chất lượng cao có nguồn gốc từ một nơi sản xuất đầy uy tín sẽ là một phương pháp tốt để bổ sung trong chế độ ăn uống cho con trẻ của bạn. Nên hỏi ý kiến bác sĩ chăm sóc sức khỏe của bạn về hướng dẫn liều dùng và con trẻ của bạn có thể có nhiều lợi ích từ việc hấp thụ các axit béo thiết yếu.

Axit béo thiết yếu

- Có hai loại axit beo thiết yếu là Omega-3 và Omega-6. Chúng rất cần thiết bởi vì cơ thể của chúng ta đòi hỏi nhu cầu hấp thụ chúng cao. Nhưng cũng không được cung cấp vào cơ thể một lượng quá lớn. Các axit béo thiết yếu cần được hấp thụ thông qua chế độ ăn uống để năng ngừa sự thiếu hụt. Axit béo Omega-3 có xu hướng giảm viêm, trong khi đó xit béo Omega-6 có xu hướng tăng viêm. Lượng Omega-3 và Omega-6 phải được cân bằng cho chức năng tế bào tối ưu.
- Các chế độ ăn uống điển hình của Mỹ chứa axit béo Omega-6 nhiều gấp 14 đến 25 lần axit béo Omega-3, dẫn đến tình trạng viêm trong cơ thể. Sự mất cân bằng này cũng góp phần gây ra bệnh mãn tính như bệnh tim, tiểu đường và viêm khớp cũng như rối loạn cảm xúc (trầm cảm)
- Chế độ ăn uống của các quốc gia ở miền ven biển, đặc biệt là Địa Trung Hải có một sự cân bằng lành mạnh hơn nhiều giữa chất Omega-3 và 6 và ít có khả năng bị gây ra bệnh tim. Nguồn chất béo Omega-6 bao gồm thịt, thực phẩm chế biến và các loại dầu thực vật tinh chế. Nguồn chất béo Omega-3 bao gồm cá,rong biển, nhuyễn thể, dầu được chiết xuất từ các loại hạt và nhiều loại thực vật.

Hạt Chia, Hạt Lanh và các thực phẩm bổ sung khác

Do lo ngại về độc tố từ môi trường trong hải sản nên chế độ ăn uống của Mỹ được xử lý cao, chất lượng cao, tươi, bổ sung dầu cá có thể là nguồn an toàn nhất trong chất béo Omega-3 hoặc từ các loại hạt giàu chất béo lành mạnh và có tỷ lệ Omega-3/Omega-6 tối ưu như Hạt Chia của người Mayan hoặc hạt Lanh.
Hãy nhận tư vấn từ bác sĩ của bạn về những lợi ích của việc bổ sung ch6at1 béo lành mạnh vào chế độ ăn hàng ngày của bạn…..
Tiến Sĩ Andrea Hornstein sở hữu bản quyền và điều hành Hornstein Family Chiropractic tại Wahpeton
http://www.wahpetondailynews.com/health/article_a8594da6-0dc6-11e4-ba0f-001a4bcf887a.html

Có thể chữa khỏi viêm gan B không?

- Thứ Năm, ngày 27 tháng 11 năm 2014 No Comments
Anh tôi bị viêm gan B đã gần một năm nay, đi chữa vẫn chưa khỏi. Xin hỏi bệnh viêm gan B hiện y học đã có thể chữa khỏi chưa?
Thu Xưa (thuxua2009@...)
TS.BS Phạm Thị Lệ Hoa, trưởng phòng khám viêm gan bệnh viện đại học Y dược TP.HCM: Viêm gan siêu vi B cấp không cần dùng thuốc đặc trị cũng có thể khỏi hoàn toàn. Viêm gan B mạn thì cần điều trị để tránh xơ gan hay ung thư gan bằng cách kiểm soát lâu dài siêu vi (thể hiện bằng HBVDNA âm và HBeAg âm ngay cả sau ngưng thuốc). Có thể nói tỷ lệ chữa khỏi hoàn toàn (HBsAg trở nên âm tính) của viêm gan B mạn rất thấp, nhưng việc kiểm soát siêu vi lâu dài là thực hiện được nếu bệnh nhân theo dõi, tái khám đầy đủ.

Người trẻ có dễ bị tai biến mạch máu não?

- No Comments
Tôi năm nay 28 tuổi, huyết áp hay ở mức 140/100mmHg, lại phải làm việc căng thẳng trí óc, thường xuyên ngủ trễ... Nghe nói người huyết áp cao có nguy cơ bị đột quỵ não do tai biến mạch máu não, xin hỏi tai nạn đó có dễ xảy ra ở người trẻ như tôi không? Tôi nên làm gì để phòng tránh?
Quốc Thuận,TP.HCM.
PGS.TS.BS Nguyễn Minh Hiện, trưởng khoa đột quỵ não bệnh viện Quân y 103:
Đột quỵ não và tai biến mạch máu não là hai tên gọi của một tình trạng tổn thương não cấp tính do mạch máu. Hiện nay đột quỵ não ở người trẻ chiếm một tỷ lệ nhất định.
Đặc biệt là có những bệnh nhân đột quỵ não ở độ tuổi 20 – 25. Bạn hiện có những yếu tố nguy cơ gây đột quỵ não như: tăng huyết áp, thường xuyên căng thẳng trong công việc… Với mức huyết áp như vậy, bạn cần có biện pháp điều trị và dự phòng các yếu tố nguy cơ. Bạn cần uống các thuốc huyết áp theo chỉ dẫn của bác sĩ.
Tôi khuyên bạn nên mua một máy đo huyết áp cá nhân đã được viện Tim mạch quốc gia công nhận để thường xuyên kiểm soát huyết áp của mình. Bạn lưu ý uống thuốc ngay khi huyết áp tăng để duy trì về mức dưới 130mmHg. Bên cạnh đó, bạn cần bỏ thuốc lá, cai rượu bia, hạn chế ăn mỡ động vật, phủ tạng động vật… Việc điều tiết chế độ ăn, làm việc và duy trì dùng thuốc sẽ giúp bạn kiểm soát được bệnh và tránh nguy cơ đột quỵ não.

Làm sao ngừa biến chứng do bệnh tiểu đường ?

- No Comments
Bệnh đái tháo đường hay còn gọi là bênh tiểu đường là một rối loạn chuyển hoá mãn tính có đặc điểm chính là glucose huyết trong máu tăng cao, gây tổn thương nhiều tổ chức, cơ quan trong cơ thể.

Đáng lo nhất: biến chứng mạch máu

Biến chứng thay đổi theo cơ chế sinh bệnh, nhưng yếu tố luôn hiện diện là tình trạng tăng glucose huyết kéo dài trong máu. Tuy nhiên, có một số bệnh nhân dù glucose huyết tăng cao lâu ngày, nhưng biến chứng rất ít. Một số bệnh nhân khác chỉ bị bệnh một thời gian ngắn nhưng lại nhiều biến chứng nặng, bởi ngoài tăng glucose huyết có thêm ảnh hưởng của di truyền, môi trường hoặc các bệnh đi kèm như tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu…
Một trong những tổn thương quan trọng nhất xảy ra ở hệ thống mạch máu, do đó biến chứng chính của bệnh đái tháo đường bao gồm biến chứng mạch máu lớn và biến chứng mạch máu nhỏ. Bệnh đái tháo đường cũng gây ra nhiều tổn thương ở các cơ quan khác như da, răng, miệng…
Biến chứng mạch máu nhỏ của bệnh đái tháo đường bao gồm: biến chứng ở đáy mắt còn gọi là bệnh võng mạc đái tháo đường; biến chứng ở thận còn gọi là bệnh thận đái tháo đường; biến chứng thần kinh còn gọi là bệnh thần kinh đái tháo đường; biến chứng mạch máu lớn của bệnh đái tháo đường có tổn thương chính là tình trạng xơ vữa động mạch với các hậu quả chính trên lâm sàng: đột quỵ (do thiếu máu não, xuất huyết não), hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua; bệnh cơ tim thiếu máu, nhồi máu cơ tim; bệnh mạch máu ngoại vi…

Giảm glucose huyết là giảm biến chứng

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh giảm glucose huyết là giảm được biến chứng. Một nghiên cứu kéo dài về bệnh đái tháo đường tại vương quốc Anh trên khoảng 5.000 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 cho thấy, sau thời gian theo dõi trung bình mười năm, nhóm giảm glucose huyết tích cực giảm các biến chứng mạch máu nhỏ khoảng 22% so với nhóm điều trị không tích cực. Một nghiên cứu ở bệnh nhân đái tháo đường týp 1 cũng có kết quả tương tự: 1.441 bệnh nhân đái tháo đường týp 1 sau thời gian theo dõi trung bình sáu năm rưỡi, nhóm được điều trị giảm glucose huyết tích cực có biến chứng mạch máu nhỏ (ở thận, đáy mắt và thần kinh) ít hơn nhóm giảm glucose huyết kém tích cực. Cả hai nghiên cứu đều đưa đến kết luận quan trọng: ngay từ khi mới chẩn đoán phát hiện bệnh đái tháo đường, nếu điều trị giảm glucose huyết thật tốt, sẽ giảm được cả biến chứng mạch máu nhỏ và mạch máu lớn.
Một nghiên cứu khác ở bệnh nhân đái tháo đường (tiểu đường) týp 2 đã có albumin niệu – nghiên cứu Steno (được thực hiện tại trung tâm đái tháo đường Steno ở Đan Mạch) cho thấy nếu điều trị tích cực và toàn diện tất cả yếu tố nguy cơ tim mạch của bệnh đái tháo đường như tăng glucose huyết, tăng huyết áp, tăng cholesterol máu, ngưng hút thuốc cùng với ăn uống đúng và luyện tập thể lực, có thể giảm được biến chứng ở mắt, thận, thần kinh; hơn thế nữa sau 13 năm, nhóm được điều trị tích cực tất cả các yếu tố giảm 50% các biến cố tim mạch và 50% nguy cơ tử vong.
Từ các kết quả nghiên cứu, mục tiêu điều trị của bệnh đái tháo đường đã được xác định: glucose huyết HbA 1c < 7%; huyết áp <130/80mmHg; LDL cholesterol < 100mg/dL khi bệnh nhân chưa bị biến cố tim mạch và <70mg/dL ở bệnh nhân đái tháo đường đã bị biến cố tim mạch; ngưng hút thuốc lá.
Để đạt được các mục tiêu trên, bệnh nhân nên tuân thủ điều trị theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ và lưu ý sử dụng thuốc luôn phải đi cùng chế độ ăn uống điều độ và luyện tập thể lực đều đặn.
PGS.TS.BS Nguyễn Thy Khuê
Đào tạo quốc tế chuyên sâu đái tháo đường cho Việt Nam
Ngày 1.12, tại TP Melbourne (Úc), công ty Sanofi chính thức công bố chương trình hợp tác với hội Nội tiết và đái tháo đường Việt Nam (VADE) và hội Đái tháo đường Mỹ (ADA) nhằm hỗ trợ kiểm soát hiệu quả hơn bệnh đái tháo đường ở Việt Nam. Theo đó, sẽ có hơn 1.500 bác sĩ Việt Nam trên toàn quốc được đào tạo và trang bị những kiến thức thực hành y khoa tiên tiến nhất từ ADA và VADE, để góp phần kiểm soát tốt vấn nạn sức khoẻ này ở Việt Nam. Tại lễ ký kết hợp tác, PGS.TS.BS Nguyễn Thy Khuê, chủ tịch VADE, cho biết hiện Việt Nam có hơn 5 triệu bệnh nhân đái tháo đường, nhưng chỉ hơn 1 triệu người được phát hiện và điều trị. Bà nói: “Tỷ lệ bệnh này đang có chiều hướng tăng nhanh, vì thế chúng ta cần hành động ngay để có thể kiểm soát bệnh đái tháo đường, đặc biệt ở giai đoạn sớm. Việc tăng nhận thức về bệnh và đào tạo bác sĩ Việt Nam là yếu tố quan trọng để thành công”.
SGTT.VN - Phan Sơn

Tim loạn nhịp do nhậu ngày nghỉ

- No Comments
Sau một thời gian làm việc căng thẳng, cơ thể đã rất mệt mỏi, các cơ quan quan trọng trong đó có tim cần được nghỉ ngơi để hồi phục. Vì vậy, trong những ngày nghỉ, nếu chúng ta tiếp tục bắt cơ thể phải làm việc nhiều hơn, phải chịu đựng một số lượng lớn các đồ uống có cồn thì việc chuyển hoá chúng qua gan và đào thải qua thận sẽ bị chậm lại, kết quả là tim luôn chịu tác động độc tính của rượu bia và loạn nhịp tim sẽ xảy ra.

Tim cũng biết say

Hội chứng “trái tim ngày nghỉ” chỉ những loại loạn nhịp tim xuất hiện trong ngày nghỉ ở những người trước đó không có tiền sử bệnh tim mạch, cấu trúc và chức năng tim hoàn toàn bình thường. Hội chứng này hay gặp ở người nghiện rượu, người có thói quen uống nhiều rượu bia vào ngày nghỉ và cả ở người khả năng dung nạp rượu bia kém. Loạn nhịp tim ngày nghỉ cũng có sự “đóng góp” của stress, thức đêm, mất nước và điện giải…
Có hai cơ chế giải thích tại sao uống rượu bia quá nhiều trong thời gian ngắn gây loạn nhịp tim:
Cơ chế thứ nhất là khi uống một lượng rượu bia lớn, lượng cồn trong máu tăng rất nhanh kích thích cơ thể sản xuất adrenaline và noradrenaline, gây co mạch, tăng huyết áp, kích thích tim đập nhanh, tăng tiêu thụ oxy của tế bào cơ tim.
Cơ chế thứ hai là do acetaldehyde (chất chuyển hoá của rượu) là một chất ôxy hoá mạnh có khả năng làm tăng các gốc tự do gây thương tổn tế bào và mô. Acetaldehyde cũng làm suy giảm khả năng phosphoryl hoá của ty lạp thể, từ đó làm giảm chuyển hoá tế bào trong đó có tế bào cơ tim. Các ester của axít béo hình thành trong quá trình chuyển hoá rượu cũng làm giảm quá trình phosphoryl hoá của ty lạp thể trong tế bào. Acetaldehyde cũng làm rối loạn sự lưu chuyển canxi giữa trong và ngoài tế bào làm tổn thương cơ tim, làm tăng co thắt mạch vành gây thiếu máu cơ tim, gây loạn nhịp tim.
Một số cơ chế khác cũng được đề cập như viêm cơ tim do rượu, tổn thương trực tiếp màng tế bào, mất cân bằng canxi, kẽm trong và ngoài tế bào, tăng hoạt hoá hệ renin-agiotensin…

Dấu hiệu loạn nhịp

Loại loạn nhịp hay gặp nhất là cơn nhịp nhanh trên thất và rung nhĩ hay còn được gọi là loạn nhịp hoàn toàn. Sau khi uống rượu bia, bệnh nhân thấy mệt mỏi, tức ngực, đánh trống ngực, cảm giác đau ngực, chẹn ngực và khó thở. Khám có thể thấy dấu hiệu tim đập nhanh, không đều hoặc loạn nhịp hoàn toàn. Xác định chẩn đoán bằng làm điện tim đồ khi cơn loạn nhịp đang xảy ra. Một số các loại loạn nhịp khác cũng có thể xuất hiện sau khi lạm dụng rượu như ngoại tâm thu, mà bệnh nhân thường cảm thấy tim thỉnh thoảng bỏ một vài nhịp.
Thông thường, tất cả các loại loạn nhịp nói trên đều mất đi khoảng 24 giờ sau khi ngừng uống rượu, bia, cơ thể được cung cấp đầy đủ nước, các chất dinh dưỡng và nghỉ ngơi hoàn toàn.

Thương lấy con tim

Vì nguyên nhân chính là rượu bia nên cách phòng tránh tốt nhất là tránh say xỉn trong những ngày này. Các biện pháp tiếp theo là bổ sung dinh dưỡng đầy đủ (bao gồm các vitamin, đặc biệt là vitamin B1, vitamin B12… các chất điện giải và các yếu tố vi lượng). Uống đủ nước, không hoạt động thể chất quá sức, dành nhiều thời gian thư giãn cũng góp phần làm giảm tỷ lệ loạn nhịp tim.
SGTT.VN - TS.BS Vũ Đức Định, trưởng khoa hồi sức tích cực, bệnh viện E Trung ương

Tim muốn khoẻ phải hoà nhịp đập

- No Comments
Sự phát triển của y khoa nói chung và ngành tim mạch nói riêng giúp trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh ngày càng được điều trị tốt hơn. Tuy nhiên, chỉ điều trị khỏi bệnh hoặc giúp trẻ khoẻ hơn là chưa đủ.
Trẻ còn phải được học tập, trau dồi tri thức và văn hoá để phát triển toàn diện cả thể chất lẫn tinh thần. Vì vậy, thời điểm sau khi điều trị bệnh chính là cột mốc đánh dấu một khởi đầu mới trong đời trẻ: tiến trình trở lại hoà nhập toàn diện với xã hội.

Bệnh tim vẫn có thể phát triển bình thường

Bệnh tim bẩm sinh là các dị tật của buồng tim, van tim, vách tim và các mạch máu lớn, xảy ra từ trong bào thai. Tần suất bệnh là 8/1.000 trẻ ra đời còn sống. Bệnh sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến quá trình phát triển của trẻ nhưng nhìn chung, phần lớn trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh có thể phát triển như bình thường.
Tuỳ thuộc vào loại dị tật, mức độ nặng nhẹ, thời điểm điều trị sớm hay muộn mà có ảnh hưởng khác nhau: tổn thương nhẹ gần như không gây tác hại gì hoặc không ảnh hưởng đến trẻ ở giai đoạn đầu của bệnh; tổn thương nặng thường gây ra triệu chứng sớm – trẻ dễ mệt mỏi, hạn chế trong sinh hoạt, chậm lớn, khó khăn trong quá trình trưởng thành về thể chất, tinh thần... Đặc biệt, trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh có tím da niêm, bệnh nặng và kéo dài sẽ ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát triển thể chất và trí thông minh do tình trạng thiếu mãn tính oxy cung cấp cho não và cơ thể.
Sau phẫu thuật, chỉ một số ít trẻ lớn có thể gặp những vấn đề về vận động, hành vi, ngôn ngữ, sự tập trung, trí nhớ… Nếu được phẫu thuật ở tuổi còn rất nhỏ thì khi lớn lên, trẻ gần như không có dấu ấn gì về cuộc phẫu thuật. Thêm nữa, nếu giải quyết được triệt để bệnh, trẻ gần như sẽ phát triển bình thường.

Chìa khoá kiến thức

Thường thì phần lớn tuổi thơ của một đứa trẻ là gắn bó với trường học. Tại đây, trẻ sẽ học được các kỹ năng, kiến thức về đọc, viết, toán học, văn hoá, tiếp xúc với bạn bè… Vì vậy, nếu có thể, nên cho trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh tới trường, nhất là sau khi trẻ đã được điều trị, có sức khoẻ để tham gia học tập. Tiến trình điều trị cho trẻ sẽ không hoàn hảo nếu chỉ giúp trẻ khoẻ mạnh mà không có được tri thức, văn hoá. Kiến thức sẽ là chiếc chìa khoá giúp trẻ mở toang mọi cánh cửa trong cuộc sống sau này.
Một số cha mẹ thường e ngại rằng đi học hay vận động sẽ khiến trẻ mệt, không tốt cho sức khoẻ và tim (ngay cả khi bệnh đã được điều trị). Điều này không đúng! Dĩ nhiên, mỗi trẻ có sức khoẻ, tình trạng bệnh lý khác nhau, phương pháp điều trị khác nhau, điều trị khỏi hẳn hay tạm thời… nhưng nhìn chung, mọi trẻ đều có thể tham gia học tập. Bác sĩ điều trị sẽ cho lời khuyên về những hoạt động, mức độ vận động trẻ có thể tham gia, những vấn đề sức khoẻ cần theo dõi… khi học tập tại trường cũng như trong sinh hoạt hàng ngày.
Nếu trẻ được phẫu thuật lúc còn nhỏ, khi lớn lên, đi học, trẻ thường dễ dàng hoà nhập với trường lớp như những trẻ khác. Với trẻ đang ở lứa tuổi đi học, sau phẫu thuật khoảng hai tuần đến một tháng là phần lớn đã có thể trở lại trường. Những trẻ này, có thể vì đã nghỉ học một thời gian dài để chữa bệnh, hoặc do việc học bị ảnh hưởng bởi sức khoẻ không tốt trước phẫu thuật nên khi học lại có thể khó thích nghi, tiến chậm hơn bạn cùng lớp... khiến một số trẻ trở nên lo lắng, căng thẳng, không hài lòng, chán nản... Khi ấy, cha mẹ và thầy cô có vai trò rất quan trọng trong việc giúp đỡ trẻ học tập, hội nhập với trường lớp, vượt qua những khó khăn. Tuy nhiên, thầy cô cũng nên đối xử với trẻ bình đẳng như những trẻ khác để tránh gây cho trẻ mặc cảm bệnh tật khiến trẻ kém tự tin.

Hoà mình vào cuộc sống

Trẻ được điều trị khỏi hẳn bệnh tim thường có thể sinh hoạt bình thường, không bị giới hạn về hoạt động thể lực. Khoẻ mạnh trong người, tự nhiên trẻ sẽ trở nên hoạt bát, năng động, lanh lợi, vui giỡn, nô đùa… đúng với bản tính trẻ con. Tuy nhiên, trẻ có thể e dè trước những hoạt động chưa từng trải nghiệm hoặc không được phép thực hiện khi bị bệnh nên cha mẹ cần hỗ trợ và khuyến khích trẻ mạnh dạn tham gia các hoạt động thể thao, các sinh hoạt trong gia đình, xã hội.
Với trẻ mắc bệnh tim nặng, chỉ được phẫu thuật sửa chữa tạm thời hoặc không thể điều trị khỏi hẳn bệnh, để tim không phải gắng sức quá mức, có thể trẻ cần giới hạn phần nào hoạt động thể lực trong sinh hoạt hàng ngày, không được chơi những môn thể thao đối kháng hoặc vận động mạnh. Bác sĩ điều trị sẽ cho biết môn thể thao và mức độ hoạt động thể lực nào phù hợp với tình trạng trẻ. Sẽ thật khó khăn, nhất là với những trẻ lớn, khi trẻ không thể tham gia hết mình vào các môn thể thao cũng như khi vui chơi với bạn bè. Trẻ sẽ có cảm giác “đứng ngoài lề” cuộc chơi, cảm thấy thất vọng, đặc biệt là với những trẻ đã từng yêu thích và chơi tốt một môn thể thao nào đó. Cha mẹ cần giải thích cho trẻ hiểu song song với việc động viên trẻ.
Trẻ cần được khuyến khích kết bạn, tham gia các hoạt động trong gia đình và cộng đồng để từng bước hoà nhập xã hội. Trẻ cũng cần được định hướng phát triển những kỹ năng trong nhiều lĩnh vực để khi lớn lên, trẻ có thể kiếm được công việc phù hợp với khả năng và sức khoẻ.
Theo SGTT.VN - ThS.BS Ngô Bảo Khoa,
khoa phẫu thuật tim mạch, bệnh viện đại học Y dược TP.HCM.

Dùng sữa rửa mặt sao cho đúng?

- No Comments
“Tôi xem chương trình làm đẹp trên tivi thấy có hướng dẫn đi ngoài đường về nhà nên xài sữa rửa mặt để có làn da sạch, khoẻ. Tuy nhiên tôi làm theo thì cảm giác da bị khô hơn so với chỉ dùng nước sạch rửa. Tại chất lượng sản phẩm hay hướng dẫn đó sai?”
Hoài An (lehoaian2012@...)
PGS.TS.BS Nguyễn Duy Hưng, tổng thư ký hội Da liễu Việt Nam: Nếu dùng đúng cách thì sữa rửa mặt có thể dùng hai lần một ngày mà không làm khô da mặt, vào buổi sáng ngủ dậy và chiều tối sau khi ở ngoài đường về. Trong trường hợp dùng thường xuyên mà da bị khô thì có thể là do chọn loại sữa rửa mặt chưa phù hợp làn da. Tốt nhất nên chọn loại sữa phù hợp với da, ví dụ da bị khô thì cần chọn loại sữa rửa mặt làm ẩm da. Lấy một chút ra tay và đánh tạo bọt trước khi sử dụng, nhất là các loại sữa rửa mặt dạng hạt, để chúng không làm tổn thương da. Dùng phần bọt đã đánh thoa lên mặt theo chiều lỗ chân lông. Mátxa nhẹ nhàng da mặt, nhất là vùng chỏm mũi, hai bên khoá mũi, trán, những nơi dễ bám bụi để tẩy sạch chất bẩn. Không để sữa rửa mặt lâu trên da vì chúng có thể làm khô da. Dùng nước rửa sạch mặt và thấm khô bằng khăn. Sau khi dùng sữa rửa mặt, cần dùng thêm kem dưỡng da, giữ cho da có độ ẩm và phục hồi làn da khi chịu tác động từ môi trường.